Phát dương văn hóa các dân tộc thiểu số từ Nghị quyết 80 - BÀI 3: Đưa di sản thành động lực phát triển
(Chinhphu.vn) - Từ giữ gìn bản sắc, bảo đảm thụ hưởng đến khai thác di sản, Nghị quyết số 80-NQ/TW đang mở ra những cơ hội phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Văn hóa được đặt đúng vị trí không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là động lực nội sinh mạnh mẽ cho phát triển bền vững trong tương lai.
Phát dương văn hóa các dân tộc thiểu số từ Nghị quyết số 80-NQ/TW
Bài cuối: Đưa di sản thành động lực phát triển
Từ giữ gìn bản sắc, bảo đảm thụ hưởng đến khai thác di sản, Nghị quyết số 80-NQ/TW đang mở ra những cơ hội phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Văn hóa được đặt đúng vị trí không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là động lực nội sinh mạnh mẽ cho phát triển bền vững trong tương lai.
Với nền văn hóa đậm đà bản sắc của 54 dân tộc, Việt Nam có tiềm năng để phát triển công nghiệp văn hóa, qua đó vừa phát dương bản sắc văn hóa, vừa đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, phấn đấu nâng lên 9% vào năm 2045.
Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa là một thế mạnh của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bên cạnh các di sản văn hóa vật thể (di tích, kiến trúc truyền thống, trang phục, nhạc cụ…) cùng cảnh quan thiên nhiên đa dạng thì cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể của hệ thống di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, từ tri thức bản địa, phong tục, lễ hội đến các nghề thủ công, nghệ thuật dân gian truyền thống.
Đây là "mỏ vàng" để các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Và trên thực tế, ở nhiều bản làng vùng cao, di sản văn hóa đang trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, tạo sinh kế cho người dân, nhất là ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.
Những màn trình diễn văn nghệ dân tộc đặc sắc tại xã Bảo Lạc (Cao Bằng) - Ảnh: Bảo Lạc
Xóm Khuổi Khon, xã Bảo Lạc (Cao Bằng) có 101 hộ, trong đó có 61 hộ dân tộc Lô Lô – một trong 9 dân tộc có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 – 2030 theo Quyết định số 132/QĐ-BDTTG ngày 25/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Với lợi thế cảnh quan tươi đẹp, cơ sở hạ tầng được đầu tư, đồng bào Lô Lô ở Khuổi Khon đã khai thác bản sắc văn hóa truyền thống để phát triển du lịch công đồng.
Lô Lô Chải nép mình dưới chân cột cờ Lũng Cú, xã Lũng Cú (Tuyên Quang) – một trong số ít bản làng còn vẹn nguyên bản sắc văn hóa độc đáo của người Lô Lô - Ảnh: Lũng Cú
Còn tại Lô Lô Chải - theo Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cú Ma Doãn Khánh, xã đã quy hoạch cảnh quan, mở lớp tập huấn kỹ năng, tiếng Anh giao tiếp, bảo vệ môi trường... giúp người dân làm du lịch chuyên nghiệp mà vẫn giữ được bản sắc. Đồng thời, xã chuẩn bị đầu tư hệ thống thoát nước thải và lát đá đường nội thôn, phấn đấu hoàn thành trước mùa đông năm 2026 để phục vụ du khách trong mùa cao điểm du lịch.
Giai đoạn 2021-2025, Chương trình MTQG 1719 đã hỗ trợ xây dựng 69 điểm du lịch truyền thống, đầu tư 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao, bảo tồn 124 lễ hội truyền thống, hỗ trợ 695 câu lạc bộ văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống; triển khai 33 chương trình khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người; bồi dưỡng chuyên môn, truyền dạy văn hóa phi vật thể cho hơn 16.350 lượt người…
Cũng như Khuổi Khon và Lô Lô Chải, tài nguyên văn hóa ở những bản làng vùng cao đang được 'đánh thức" từ các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch. Kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, nhưng đầu tư cho văn hoá vẫn còn thấp và dàn trải, nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; một số di sản văn hoá vật thể, phi vật thể xuống cấp, mai một chưa được khắc phục triệt để.
Xác định đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc, Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn, đồng thời có chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân.
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
Trong chuyên đề về những vấn đề mới, cốt lõi trong Nghị quyết 80-NQ/TW trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị diễn ra ngày 25/2/2026, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết khẳng định, các nghị quyết trước không trực tiếp xác định chỉ tiêu mà giao cho Nhà nước.
Ông cho biết, những năm qua, Nhà nước quyết định 1,8%, nhưng trên thực tế hầu như chưa đạt tới, năm cao mới đạt trên 1,7%. Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định "tối thiểu 2%" và còn định hướng tăng dần theo yêu cầu thực tiễn" là một đột phá lớn, chưa từng có đối với đầu tư cho văn hóa.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đề ra những định hướng đột phá để phát triển văn hóa, nhất là đột phá về thu hút nguồn lực. Bên cạnh yêu cầu bố trí tối thiểu 2% thì Nghị quyết đã có những đột phá tiếp cận đất đai, thuế, phí, lệ phí; về ưu đãi đầu tư, tài trợ và hoạt động văn hóa…
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, một trong những đột phá của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đã tác động trực diện vào 3 điểm nghẽn lớn nhất của đầu tư văn hóa hiện nay, gồm quy hoạch, đất đai và thủ tục. Trên thực tế, nhiều dự án văn hóa không thể hình thành hoặc chậm triển khai không phải vì thiếu nhu cầu xã hội, mà vì vướng quy hoạch, thiếu quỹ đất và thủ tục kéo dài.
Những định hướng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW đã được thể chế hóa trong dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong khuôn khổ đợt 2 kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội hóa XVI, nhiều đại biểu đã đóng góp những ý kiến tâm huyết để chính sách khi được ban hành thực sự tạo động lực phát huy di sản của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong đó, đại biểu Lý Thị Lan (đoàn Tuyên Quang) đặc biệt nhấn mạnh, phát triển văn hóa phải gắn với phát triển kinh tế - xã hội và tạo sinh kế bền vững cho người dân, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đại biểu kiến nghị ưu tiên phân bổ nguồn lực cho vùng khó khăn, bổ sung cơ chế vận hành hiệu quả thiết chế văn hóa; phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng phân vùng; đồng thời chú trọng đào tạo, đãi ngộ nghệ nhân, khuyến khích truyền dạy di sản trong cộng đồng và trường học…
Có thể khẳng định, con đường phát triển bền vững của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ không thể tách rời văn hóa. Khi di sản được bảo tồn, được đầu tư và được khai thác đúng hướng, đó không chỉ là giữ gìn bản sắc, mà là tạo dựng tương lai.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra một nguyên tắc mới: Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho phát triển. Và khi nguồn lực được khơi thông, cơ chế được hoàn thiện, di sản sẽ không chỉ được lưu giữ trong ký ức, mà sẽ trở thành động lực để các bản làng vùng cao vươn lên mạnh mẽ, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới.
Sơn Hào

