Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 18/6/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 18/6/2026.
Xây dựng Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng
Chính phủ ban hành Nghị định số 212/2026/NĐ-CP ngày 17/6/2026 quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 14 và khoản 7 Điều 88 ; khoản 3 Điều 54 (được sửa đổi, bổ sung bởi ) gồm các nội dung sau:
a) Xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng;
b) Điều kiện năng lực, kinh nghiệm của cá nhân tham gia hoạt động xây dựng; thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động xây dựng đối với nhà thầu là tổ chức, cá nhân nước ngoài; nội dung công khai thông tin năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức; đăng tải kinh nghiệm hành nghề hoạt động xây dựng của cá nhân trên Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Quy hoạch, dự án, công trình xây dựng quốc phòng, an ninh, cơ yếu và bí mật nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh tại Nghị định này.
Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc xây dựng, cập nhật, duy trì, khai thác, sử dụng và quản lý Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
Xây dựng Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng
Về hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, Nghị định quy định như sau:
1. Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được xây dựng tập trung, thống nhất trong phạm vi toàn quốc bảo đảm:
a) Hoạt động liên tục, ổn định, thông suốt, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, phục vụ quản lý nhà nước;
b) Đáp ứng điều kiện thực hiện thủ tục trực tuyến toàn trình hoặc trực tuyến một phần theo quy định của pháp luật có liên quan để tự động thu thập, cập nhật dữ liệu theo lộ trình quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định này.
c) Đáp ứng yêu cầu theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra về hoạt động đầu tư xây dựng theo yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực và phát triển kinh tế - xã hội;
d) Bảo đảm việc tạo lập, cập nhật, duy trì, khai thác, sử dụng, quản lý, chia sẻ, kết nối phù hợp theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối và chia sẻ dữ liệu, an ninh mạng và các quy định pháp luật khác phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân.
2. Bộ Xây dựng là cơ quan chủ quản Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật.
3. Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng được vận hành tại địa chỉ https://csdlhdxd.gov.vn, bao gồm các cấu phần sau:
a) Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và dữ liệu, thông tin khác về hoạt động xây dựng;
b) Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin phục vụ lưu trữ, xử lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu;
c) Hệ thống phần mềm ứng dụng, dịch vụ phần mềm, nền tảng điện toán đám mây phục vụ quản lý, vận hành, khai thác thông tin về hoạt động xây dựng.
4. Hệ thống thông tin, dữ liệu về định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng được xây dựng, khai thác, vận hành độc lập tại địa chỉ bao gồm các thành phần dữ liệu sau:
a) Dữ liệu quy định tại điểm o khoản 7 Điều 3 Nghị định này được trích, chọn và đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định này;
b) Dữ liệu, thông tin về định mức xây dựng, giá xây dựng, giá các yếu tố chi phí trực tiếp cấu thành giá công tác xây dựng, chỉ số giá xây dựng do tổ chức cung cấp không thuộc quy định tại điểm a khoản này.
5. Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng làm cơ sở tạo lập các nền tảng ứng dụng sau đây:
a) Các nền tảng ứng dụng về báo cáo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, tổ chức có liên quan trích xuất báo cáo theo yêu cầu đột xuất, hàng tháng, hàng quý, hàng năm để đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành, xây dựng cơ chế, chính sách, quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền và các yêu cầu khác có liên quan;
b) Các nền tảng, ứng dụng về quản lý, phân tích, khai thác dữ liệu và hỗ trợ các nghiệp vụ có liên quan;
c) Các nền tảng phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, cảnh báo sớm, hỗ trợ ra quyết định và kiểm soát rủi ro phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và cập nhật theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực;
d) Ứng dụng công khai, chia sẻ dữ liệu mở theo quy định;
đ) Các nền tảng ứng dụng khác có liên quan để đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế - xã hội trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.
6. Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được tạo lập, cập nhật, xác thực đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục thì có giá trị khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, xây dựng và pháp luật có liên quan.
7. Dữ liệu chủ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng là dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền xác lập và cập nhật, điều chỉnh theo quy định tại Nghị định này.
8. Trường hợp dữ liệu, thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng hiển thị trên Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng chưa đầy đủ, chính xác so với kết quả giải quyết thủ tục theo quy định tại Điều 6 Nghị định này, cơ quan có thẩm quyền ban hành kết quả thủ tục có trách nhiệm rà soát, kiểm tra và cập nhật dữ liệu, thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng bảo đảm phù hợp theo quy định của pháp luật có liên quan.
9. Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết khoản 7, khoản 8 nêu trên về cơ quan nhà nước có thẩm quyền rà soát, kiểm tra và cập nhật dữ liệu, thông tin bảo đảm đầy đủ, chính xác vào hệ thống.
Mã định danh trong Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng
Đáng chú ý, Nghị định này quy định rõ về mã định danh trong Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng. Theo đó, mỗi quy hoạch đô thị và nông thôn, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng phải gắn với một mã định danh duy nhất, được khởi tạo trên Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu.
Mã định danh là thông tin bắt buộc, được khởi tạo khi tạo lập hoặc cập nhật dữ liệu, thông tin trên Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng và được sử dụng thống nhất trong suốt vòng đời của đối tượng quản lý.
Kết quả giải quyết thủ tục tại các bước tiếp theo liên quan đến quy hoạch đô thị và nông thôn, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng phải gắn mã định danh đã được khởi tạo theo mẫu kết quả giải quyết các thủ tục quy định tại pháp luật về quản lý hoạt động xây dựng, quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hợp đồng xây dựng.
Hồ sơ kèm theo kết quả giải quyết thủ tục phải được cập nhật vào Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan chuyên môn về xây dựng và các tổ chức, cá nhân có liên quan khi xây dựng, ban hành quy trình giải quyết thủ tục phải có bước khởi tạo mã định danh, nhập, cập nhật dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng, năng lực hành nghề hoạt động xây dựng và các lĩnh vực có yêu cầu thu thập, tạo lập dữ liệu bảo đảm phù hợp quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Tháo gỡ vướng mắc về tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 5640/VPCP-KTTH ngày 16/6/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng về hoàn thiện quy định về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh.
Văn bản nêu: Xét đề nghị của Bộ Tài chính tại văn bản số 6911/BTC-CT ngày 26/5/2026 về báo cáo thông tin phản ánh báo chí về tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã giao Bộ Tài chính nghiên cứu kỹ vướng mắc phát sinh thực tế để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh tại Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, đảm bảo đúng quy định pháp luật và phù hợp thực tiễn triển khai thực hiện, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật; trình Chính phủ trước ngày 20/6/2026.
Đồng thời, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ngân hàng nhà nước Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ được giao xem xét kiến nghị, đề xuất của Bộ Tài chính để có giải pháp phù hợp trong công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
Thành lập BCĐ quốc gia thực hiện Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định 1081/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2026 - 2030 (Ban Chỉ đạo).
Thành viên Ban Chỉ đạo
Theo , Ban Chỉ đạo gồm các thành viên sau:
Trưởng Ban Chỉ đạo là Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Phó Trưởng Ban Chỉ đạo là Thứ trưởng Bộ Tư pháp.
Các Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm Thứ trưởng các Bộ: Công an, Ngoại giao, Nội vụ, Y tế, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Game nổ hũ rút tiền mặt học và Công nghệ, Dân tộc và Tôn giáo và đại diện lãnh đạo: Tòa án nhân dân tối cao, Thông tấn xã Việt Nam.
Chức năng và nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp rà soát, xử lý vướng mắc trong thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2026-2030 (Chương trình).
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo triển khai các phương hướng, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ hoặc đột xuất về tình hình và kết quả thực hiện Chương trình.
Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc và điều phối hoạt động giữa các bộ, ngành, cơ quan trung ương có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện Chương trình bảo đảm tiến độ, hiệu quả; phối hợp giải quyết các vấn đề liên ngành phát sinh trong quá trình thực hiện Chương trình theo thẩm quyền; thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao; báo cáo Thủ tướng Chính phủ đối với các vấn đề vượt thẩm quyền.
Hoạt động của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo hoạt động theo Quy chế hoạt động do Trưởng ban Ban Chỉ đạo ban hành.
Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo là Bộ Tư pháp và có nhiệm vụ là đầu mối tham mưu, giúp Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện Chương trình; điều phối hoạt động giữa các thành viên Ban Chỉ đạo và các cơ quan liên quan; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình; kịp thời tổng hợp tình hình, phát hiện khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp xử lý.
Ngoài ra, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo còn chuẩn bị nội dung, tài liệu, dự thảo báo cáo, chương trình công tác phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo; tổng hợp báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình thực hiện Chương trình để trình Ban Chỉ đạo và Thủ tướng Chính phủ; tổ chức quản lý, vận hành hệ thống thông tin phục vụ công tác theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình; thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Ban Chỉ đạo./.

