TOP 5 Rated Nổ Hũ | địa chỉ game nổ hũ uy tín nhất 2025 |rút tiền mặt

Game nổ hũ rút tiền mặt

Game nổ hũ rút tiền mặt

  • An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2026 (1).

20/07/2026 19:01

Công điện về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng, bảo đảm chất lượng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Công điện số 50/CĐ-TTg ngày 20/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng, bảo đảm chất lượng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền.

Mô hình thiết kế Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS xã Na Ngoi

Công điện gửi các đồng chí Bộ trưởng các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Quốc phòng, Công an, Dân tộc và Tôn giáo; các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang.

Công điện nêu rõ: Việc triển khai xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền là chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên cương của Tổ quốc, được Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, thường xuyên chỉ đạo. Nhìn chung, việc triển khai thực hiện xây dựng các trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan, đặc biệt là các địa phương liên quan tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt để bảo đảm tiến độ hoàn thành các trường giai đoạn 1 (khởi công năm 2025) trước ngày 30 tháng 8 năm 2026. Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương, vẫn còn một số công trình chậm và nguy cơ chậm tiến độ; trong khi thời gian còn lại chỉ hơn 40 ngày để hoàn thành theo mục tiêu kế hoạch đề ra.

Ưu tiên cao nhất các nguồn lực phục vụ xây dựng, hoàn thiện các trường

Để bảo đảm hoàn thành xây dựng các trường giai đoạn 1, khánh thành đồng loạt vào ngày 5 tháng 9 năm 2026, đưa vào vận hành, sử dụng ngay từ đầu năm học mới 2026-2027 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan, đề nghị các đồng chí Bí thư tỉnh uỷ, thành ủy và yêu cầu các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố biên giới đất liền tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 42/CĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2026; Thông báo số 317/TB-VPCP ngày 20 tháng 6 năm 2026; khẩn trương rà soát tiến độ thực hiện; tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; ưu tiên cao nhất các nguồn lực phục vụ xây dựng, hoàn thiện các trường theo mục tiêu, kế hoạch, thời hạn đề ra, bảo đảm chất lượng, an toàn, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực; trong đó lưu ý một số nội dung trọng tâm sau:

1. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm toàn diện theo quy định trước Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai xây dựng các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền trên toàn quốc; tập trung chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan:

a) Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo Thủ tướng Chính phủ tiến độ xây dựng các trường giai đoạn 1 của các địa phương hằng tuần, trường hợp cần thiết báo cáo theo ngày để bảo đảm hoàn thành trước ngày 30 tháng 8 năm 2026; chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan, bảo đảm công tác điều phối giữa các bộ, ngành, địa phương thông suốt, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện; thực hiện nghiêm chế độ đôn đốc, tổng hợp báo cáo tiến độ xây dựng trường theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 42/CĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2026; không để xảy ra tình trạng chậm muộn như thời gian qua.

b) Rà soát, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về tiêu chí tuyển sinh của các trường bảo đảm đúng đối tượng, không tạo "kẽ hở", lợi dụng chính sách để trục lợi; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh các trường; cùng các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, hướng dẫn các địa phương kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp làm sai lệch hồ sơ, lách tiêu chí, vi phạm quy định, trục lợi chính sách, gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực; kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan, bảo đảm hiệu quả, khả thi, phù hợp thực tiễn.

c) Chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí, truyền thông, các bộ, ngành, địa phương làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần tạo đồng thuận xã hội về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp ở các xã biên giới đất liền.

Hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh kiểm định chất lượng, nghiệm thu công trình

2. Các đồng chí Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Công an, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Dân tộc và Tôn giáo tập trung chỉ đạo từng Bộ theo chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan thực hiện kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ sau:

a) Bộ Xây dựng chủ trì chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh công tác kiểm định chất lượng, nghiệm thu công trình theo từng hạng mục đạt chuẩn kỹ thuật; bảo đảm chất lượng công trình, an toàn kết cấu tuyệt đối trước thiên tai, lũ quét cho hệ thống trường học vùng cao.

b) Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền phối hợp chặt chẽ, kịp thời bố trí đủ nguồn vốn cho các địa phương xây dựng các trường khởi công năm 2026 theo quy định; chủ động, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan; hướng dẫn các địa phương về sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định pháp luật.

c) Các Bộ: Công an, Quốc phòng, Dân tộc và Tôn giáo tăng cường phối hợp, hỗ trợ các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng các trường; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên và học sinh các trường tại các xã biên giới, gắn với bảo đảm an ninh, an toàn vùng biên; an ninh quốc gia và giữ gìn bản sắc dân tộc; kịp thời xử lý các tình huống phức tạp, ngăn chặn các tình huống có thể gây mất an ninh, an toàn khi các trường đi vào vận hành.

Hoàn thành toàn bộ các trường đã khởi công giai đoạn 1 trước ngày 30/8

3. Đề nghị các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy và yêu cầu các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, chịu trách nhiệm toàn diện theo quy định trước Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp trên địa bàn; tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:

a) Huy động tối đa các lực lượng, các nguồn lực, bám sát các công trường, quyết liệt chỉ đạo các nhà thầu tổ chức thi công liên tục "3 ca, 4 kíp", thi công liên tục 24/24 giờ, bảo đảm an toàn lao động, công trình; rà soát toàn bộ các dự án, công trình; ưu tiên, hỗ trợ, tập trung các nguồn lực, điều chuyển nhân lực từ các dự án không cấp bách, ưu tiên cao nhất cho thi công xây dựng, bảo đảm hoàn thành các trường đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng theo quy định.

b) Kiểm tra tiến độ của từng công trình hằng ngày, hằng tuần; phân công rõ người, rõ việc, chịu trách nhiệm đối với từng hạng mục công trình; có phương án bù tiến độ theo ngày; chủ động các biện pháp xử lý ngay các khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguyên vật liệu, nhân lực, máy móc, thiết kế, thủ tục, vốn đầu tư...; quyết tâm hoàn thành toàn bộ các trường đã khởi công giai đoạn 1 trước ngày 30 tháng 8 năm 2026 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.

c) Tổ chức đánh giá đúng chất lượng công trình, nghiệm thu đầy đủ, đúng quy định đối với từng công trình trước khi đưa vào sử dụng; chỉ đưa vào sử dụng những hạng mục bảo đảm chất lượng, an toàn tuyệt đối cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên nhà trường theo quy định.

d) Đảm bảo đồng bộ các điều kiện cần thiết và sẵn sàng vận hành các trường ngay từ đầu năm học mới 2026-2027; chú trọng hoàn thiện ngay các công trình phụ trợ (nhà ăn, khu nội trú, điện, nước sạch...) và trang thiết bị dạy học, học liệu, sách giáo Game nổ hũ rút tiền mặt; sắp xếp, bố trí đủ số lượng người làm việc theo định mức đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; khẩn trương tổ chức tập huấn các nội dung chuyên môn, phục vụ vận hành trường theo quy định.

đ) Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt toàn bộ quy trình đầu tư, đấu thầu và cấp phát kinh phí; tuyệt đối không để thất thoát, lãng phí trong xây dựng các công trình trường học; không để xảy ra tiêu cực, lách tiêu chí nội trú để trục lợi chính sách; tổ chức xét duyệt đối tượng học sinh vào học bảo đảm đúng đối tượng, đúng quy định; xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định, trục lợi, gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực; chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp ở các xã biên giới trên địa bàn.

Phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 (Chiến lược).

Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số

Theo Chiến lược, tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, thịnh vượng, an toàn, nhân văn; chuyển đổi số được triển khai toàn diện, đồng bộ, sâu rộng và bao trùm, trở thành phương thức phát triển chủ đạo, động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, đồng thời là đối tượng thụ hưởng chính của quá trình chuyển đổi số. Việt Nam có nền quản trị quốc gia hiện đại, dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI); làm chủ các công nghệ số, nền tảng số và sản phẩm số chiến lược; bảo đảm vững chắc chủ quyền số quốc gia.

3 nhóm mục tiêu cụ thể của Chiến lược đến năm 2030

Nhóm mục tiêu về phát triển chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động: 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 99% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 100% bộ, ngành, địa phương sử dụng thống nhất, hiệu quả các nền tảng số dùng chung quốc gia phục vụ chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công; 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu; 100% cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia, ngành, lĩnh vực, cấp tỉnh được chuẩn hóa, kết nối, phân quyền và sẵn sàng khai thác cho AI;

100% trung tâm điều hành thông minh cấp tỉnh được nâng cấp theo hướng tích hợp AI phục vụ phân tích, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định; 100% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có hồ sơ điện tử theo quy định; 70% số chỉ tiêu thống kê thuộc các hệ thống chỉ tiêu thống kê được biên soạn từ nguồn dữ liệu hành chính; 100% cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng số; 100% cán bộ chuyên trách về chuyển đổi số, công nghệ thông tin được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật công nghệ số; 100% cán bộ, công chức, viên chức có tài khoản và được đào tạo sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số (theo báo cáo đánh giá của Liên hợp quốc).

Nhóm mục tiêu về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu, bảo đảm an toàn, tuân thủ quy định của pháp luật; Tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt từ 15 - 17%.

Phấn đấu đạt 45% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng nền tảng "mô hình như một dịch vụ", tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung.

Nhóm mục tiêu về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân: Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ 100% hộ gia đình; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt tối thiểu 95%; tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%; phấn đấu tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử đạt 100%; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cơ bản cho tối thiểu 10.000.000 lượt người trong độ tuổi lao động.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra các nhiệm vụ, giải pháp: Hoàn thiện thể chế số; phát triển hạ tầng số; phát triển dữ liệu số, nền tảng số dùng chung; phát triển nhân lực số; phát triển doanh nghiệp công nghệ số; tăng cường hợp tác quốc tế.

Đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và tái sử dụng dữ liệu

Trong đó, về phát triển dữ liệu số, nền tảng số dùng chung, Chiến lược xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, nền tảng vận hành của chính phủ số, động lực của kinh tế số, nguồn lực phát triển xã hội số. Thiết lập phương thức quản trị dữ liệu quốc gia thống nhất theo nguyên tắc dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, được bảo vệ an toàn và khai thác hiệu quả.

Tập trung xây dựng, phát triển, hoàn thiện, kết nối liên thông và chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu địa phương; hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia có tích hợp, sử dụng AI để phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Ưu tiên các dữ liệu nền tảng về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, cán bộ, công chức, viên chức, giao thông, tài nguyên và môi trường.

Đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính. Bảo đảm dữ liệu, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được chia sẻ, tái sử dụng theo quy định để đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình và nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Tiếp tục phát triển các nền tảng số dùng chung quốc gia có tích hợp, sử dụng AI để phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, phát triển kinh tế số và xã hội số. Ưu tiên nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; nền tảng định danh và xác thực; nền tảng thanh toán số; nền tảng bản đồ số; nền tảng điều hành, báo cáo, giám sát; nền tảng trợ lý số và AI dùng chung; nền tảng dữ liệu mở; nền tảng phục vụ y tế số, giáo dục số, thương mại số, logistics số, nông nghiệp số, du lịch số, đô thị thông minh và các lĩnh vực trọng điểm.

Ưu tiên hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số "Make in Viet Nam"

Về phát triển doanh nghiệp công nghệ số, phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt để tiếp thu, làm chủ, phát triển và ứng dụng công nghệ số, giải quyết các bài toán lớn của chuyển đổi số quốc gia, bảo đảm tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Doanh nghiệp công nghệ số phải là lực lượng chủ lực trong phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công nghiệp công nghệ số và đưa công nghệ số vào mọi ngành, lĩnh vực, địa bàn.

Ưu tiên hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số "Make in Viet Nam" có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, với nòng cốt là các doanh nghiệp phát triển nền tảng số, dữ liệu, AI, an toàn thông tin mạng, điện toán đám mây, bán dẫn, phần mềm, nội dung số và cung cấp giải pháp chuyển đổi số theo ngành, lĩnh vực.

Phát huy vai trò của Nhà nước là thị trường lớn và khách hàng quan trọng của doanh nghiệp công nghệ số. Nhà nước tạo không gian thử nghiệm và thị trường ban đầu cho sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước thông qua đặt hàng, giao nhiệm vụ, mua sắm công, thuê dịch vụ công nghệ số, thử nghiệm có kiểm soát và ưu tiên ứng dụng trong các bài toán lớn của quốc gia, nhất là dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu dùng chung, an toàn thông tin mạng, y tế số, giáo dục số, thanh toán số và quản trị số.

Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, bảo mật, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao và các bộ, ngành, địa phương để hình thành chuỗi giá trị công nghệ số trong nước, tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm, dịch vụ số.

Quy chế và Kế hoạch hoạt động của BCĐ triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ vừa ký các Quyết định ban hành Quy chế và Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo này.

Nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo

Quyết định số 73/QĐ-BCĐ ngày 20/7/2026 ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Theo đó, Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, thảo luận công khai, bảo đảm sự thống nhất, đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu.

Ban Chỉ đạo chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo trong việc quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Trưởng Ban Chỉ đạo là người quyết định cuối cùng đối với các vấn đề của Ban Chỉ đạo; Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định một số nội dung theo phân công, ủy quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo; các ủy viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm triển khai công việc được phân công và chủ động chỉ đạo triển khai nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.

Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp định kỳ và đột xuất khi cần thiết. Trưởng Ban Chỉ đạo có thể phân công, ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp để thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo. Các thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp, trường hợp không thể tham dự họp, phải báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo và ủy quyền cho người đại diện cơ quan, đơn vị dự họp; ý kiến của người dự họp là ý kiến chính thức của thành viên Ban Chỉ đạo.

Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm

Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, đề cao trách nhiệm cá nhân; giải quyết công việc đúng phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; bảo đảm đúng thời hạn, hiệu quả và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Ban Chỉ đạo có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tháng của Ban Chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên để tổ chức thực hiện.

Ban Chỉ đạo làm việc theo chương trình hằng tháng, họp bất thường, đột xuất khi cần. Các phiên họp do Trưởng Ban Chỉ đạo hoặc Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì (khi được Trưởng Ban Chỉ đạo phân công, ủy quyền). Thành phần tham dự họp đột xuất do Trưởng Ban Chỉ đạo hoặc Phó Trưởng Ban Chỉ đạo (khi được Trưởng Ban Chỉ đạo phân công, ủy quyền) quyết định. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo họp định kỳ 01 tháng một lần.

Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo

Quyết định số 74/QĐ-BCĐ ngày 20/7/2026 ban hành Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Theo Quyết định số 74/QĐ-BCĐ, trong năm 2026, Ban Chỉ đạo thực hiện một số hoạt động chính như: Hoàn thiện thể chế, chính sách; thực hiện các hoạt động tri ân; thông tin, tuyên truyền, phát động các phòng trào "Đền ơn, đáp nghĩa"; các hoạt động kỷ niệm trọng thể, các chương trình nghệ thuật đặc biệt.

Năm 2027, Ban Chỉ đạo tiếp tục triển khai các nhiệm vụ đang thực hiện từ năm 2026 và thực hiện các hoạt động tri ân, kỷ niệm trọng thể như: Tổ chức Lễ kỷ niệm đặc biệt (cấp Nhà nước) kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ và tuyên dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc; tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tổ chức Cầu truyền hình trực tiếp (phát trên sóng VTV1) giao lưu nghệ thuật đặc biệt tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng...

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại cuộc họp Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm 

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 384/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại cuộc họp Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm.

Tập trung cho phòng, chống ngộ độc thực phẩm, nhất là tại các cơ sở giáo dục, đào tạo

Tại Thông báo kết luận, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm đánh giá: Trong thời gian qua, công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm tiếp tục được các cấp lãnh đạo, các ngành, các cấp quan tâm và đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm còn một số tồn tại, hạn chế, ngộ độc thực phẩm tiếp tục diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng rõ rệt về số vụ và số người mắc, nhất là có nhiều vụ xảy ra trong các cơ sở giáo dục; việc quản lý kinh doanh, quảng cáo thực phẩm trên sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng trực tuyến còn khó khăn; nhân lực, kinh phí làm công tác an toàn thực phẩm tại cấp xã còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là trong bối cảnh sắp xếp lại hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp…

Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quan điểm: (1) Bảo đảm an toàn thực phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người, chất lượng nguồn nhân lực, liên quan đến nguồn lực phát triển đất nước, năng lực cạnh tranh của quốc gia; (2) xác định rõ đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng với sự chung tay thực hiện của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội; (3) lấy sức khỏe, an toàn, niềm tin của người tiêu dùng là mục tiêu cốt lõi để thay đổi nhận thức, hành vi, năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đổi mới phương thức quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số, lấy dữ liệu làm cơ sở, nền tảng.

Tập trung cho phòng, chống ngộ độc thực phẩm, nhất là tại các cơ sở giáo dục, đào tạo

Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 theo báo cáo của Bộ Y tế và các ý kiến phát biểu tại cuộc họp. Giao Bộ Y tế nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của đại biểu dự họp và rà soát kỹ, hoàn chỉnh, bảo đảm xác định rõ nhiệm vụ cụ thể của các bộ, cơ quan, địa phương để thực hiện tốt hơn, tạo chuyển biến tích cực hơn nữa; trên cơ sở đó, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện có hiệu quả các nội dung trọng tâm sau đây:

Tập trung đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông nhằm đạt hiệu lực, hiệu quả cao nhất về nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của toàn xã hội, tổ chức, cá nhân có liên quan về an toàn thực phẩm vì sự phát triển bền vững của đất nước; chú trọng thay đổi phương thức truyền thông, đa dạng, phong phú, trong đó tận dụng tối đa thế mạnh của nền tảng số, xác định rõ thông điệp, chủ đích, chủ thể truyền thông. Giao Đảng ủy Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất Đảng ủy Chính phủ có văn bản đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương xây dựng, ban hành Chương trình truyền thông quốc gia về an toàn thực phẩm.

Trên cơ sở Chương trình này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có hướng dẫn, đôn đốc xây dựng các chuyên mục, chuyên đề truyền thông thường xuyên, liên tục về an toàn thực phẩm; đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục xây dựng, tổ chức các mô hình, phong trào rất thiết thực như Phong trào "toàn dân nói không với thực phẩm bẩn" (của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), "xây dựng gia đình 3 không, 5 sạch, 3 an" (của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam); lồng ghép, tích hợp với các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, văn hóa, y tế và dân số…; tiếp tục tổ chức các đề án truyền thông sâu về an toàn thực phẩm với các mô hình cụ thể có đối tượng là từng gia đình, từng người dân (như tổ liên gia an toàn thực phẩm); xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án về mô hình cộng đồng tuyên truyền, vận động, giám sát thực hiện an toàn thực phẩm gắn với các phong trào đã có và đang thực hiện, trong đó lưu ý huy động sự tham gia của các hội quần chúng như Hội Bảo vệ người tiêu dùng, các hiệp hội ngành hàng…

Về việc hoàn thiện thể chế, chính sách, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương tập trung xây dựng Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), hoàn thành và trình Quốc hội trong kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI. Trường hợp cần thiết, Bộ Y tế báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì, họp với các bộ, cơ quan liên quan để nghe báo cáo về Dự án Luật trong tháng 7/2026.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát các luật, nghị định có liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật (trong đó có các luật về quảng cáo, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật…); trường hợp cần thiết, báo cáo Chính phủ ban hành Nghị quyết để xử lý vướng mắc có liên quan theo quy định.

Phó Thủ tướng yêu cầu tập trung cao cho phòng, chống ngộ độc thực phẩm, nhất là tại các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thống nhất việc ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở giáo dục, đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Y tế và các bộ, cơ quan liên quan sớm hoàn thiện dự thảo Chỉ thị, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành theo quy định.

Siết chặt quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Bên cạnh đó, siết chặt quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; xác định rõ trách nhiệm của các bộ, cơ quan liên quan, trước hết là trách nhiệm Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong quản lý sản xuất, truy xuất nguốc gốc; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý an toàn thực phẩm có kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, đạo đức công vụ; xây dựng hệ thống bộ máy quản lý đáp ứng yêu cầu; bảo đảm có vị trí việc làm về an toàn thực phẩm ở cấp xã; các địa phương có Ban chỉ đạo liên ngành nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã chịu trách nhiệm chính về quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn.

Thúc đẩy nhanh nhất có thể hoạt động chuyển đổi số, xây dựng dữ liệu nền tảng, dùng chung, đồng bộ, kết nối, liên thông, hiệu quả. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả nhiệm vụ này.

Bộ Y tế rà soát, đề xuất cụ thể giải pháp tháo gỡ khó khăn về nguồn lực quản lý an toàn thực phẩm, trong đó có cơ chế, chính sách tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ quản lý, đặc biệt đối với việc bố trí nhân lực quản lý an toàn thực phẩm tại cấp xã. Bộ Tài chính hướng dẫn về việc ưu tiên bảo đảm đáp ứng cơ bản yêu cầu kinh phí cho quản lý an toàn thực phẩm tại cấp xã.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm. Bộ Công an tiếp tục tập trung thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt công tác đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, các tổ chức doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tập trung hướng dẫn về bảo đảm an toàn thực phẩm và chỉ đạo kiểm tra, xử lý vi phạm trong trường học, thức ăn đường phố, dịch vụ ăn uống nhỏ lẻ khu vực nông thôn.

Bộ Y tế nghiên cứu biên soạn các tài liệu, kịp thời cung cấp cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội phục vụ công tác thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 381/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai.

Thông báo nêu: Trong 06 tháng đầu năm 2026, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng tỉnh Lào Cai đã quyết tâm, nỗ lực, đạt được nhiều kết quả khá toàn diện. GRDP 06 tháng tăng 9,01%, cao hơn bình quân chung cả nước (8,18%). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, trong đó khu vực công nghiệp giữ vai trò là động lực chính (tăng 12,1%); các ngành, lĩnh vực chủ yếu duy trì đà tăng trưởng tốt. Thu ngân sách nhà nước cao nhất từ trước đến nay, ước trên 11 nghìn tỷ đồng, tăng 21,3%, đạt 63,1% dự toán Trung ương giao. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 47,2% kế hoạch, cao hơn bình quân cả nước.

Tỉnh đã hoàn thành xử lý, tháo gỡ vướng mắc đối với 400/651 dự án tồn đọng kéo dài; một số dự án có kết quả tích cực sau xử lý. Triển khai đúng tiến độ 04 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới khởi công trong năm 2025. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đào tạo, lao động - việc làm tiếp tục được quan tâm... Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao sự nỗ lực và những kết quả đạt được của các cấp ủy đảng, chính quyền và Nhân dân tỉnh Lào Cai, đóng góp vào thành quả chung của cả nước.

Bên cạnh các kết quả đạt được, Thủ tướng nhận định tỉnh Lào Cai vẫn còn một số hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức cần nghiêm túc nhìn nhận và có giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Lào Cai cần biến vị trí biên giới thành lợi thế chiến lược

Thủ tướng yêu cầu Tỉnh cần bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; nhất là Kết luận số 18-KL/TW, 10 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị để rà soát, cập nhật và cụ thể hóa thành các nhóm nhiệm vụ trong Chương trình hành động của Tỉnh. Nghiên cứu kỹ các Nghị quyết số 109, 168, 169, 180 của Chính phủ để phân tích đánh giá chính xác nguyên nhân, đề ra các giải pháp mạnh, khả thi nhằm đạt và vượt các mục tiêu đề ra.

Việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số là thách thức lớn đối với tỉnh miền núi như Lào Cai. Yêu cầu đặt ra là phải không ngừng đổi mới tư duy, cách thức triển khai; phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt, sáng tạo; biến khó khăn thành động lực, biến vị trí biên giới thành lợi thế chiến lược, biến tiềm năng, lợi thế khác biệt thành nguồn lực phát triển; hành động quyết liệt, hiệu quả; kiên định, quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đã đề ra. Phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo các ngành, lĩnh vực, địa bàn cụ thể.

Tập trung đổi mới mô hình phát triển

Đồng thời, Tỉnh tập trung đổi mới mô hình phát triển dựa trên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh... và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng; xây dựng kịch bản, nhiệm vụ đối với từng ngành, từng lĩnh vực theo tháng, theo quý, trong đó nhận diện rõ những dư địa còn tiềm năng phát triển, các động lực tăng trưởng mới, các ngành kinh tế mũi nhọn cần tập trung khai thác như kinh tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến sâu, khai khoáng, nông nghiệp sinh thái, lâm nghiệp, du lịch nghỉ dưỡng…

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; tỉnh Lào Cai phải cam kết giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 và số vốn kéo dài sang năm 2026. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tiếp nhận, phân bổ và triển khai ngay các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 sau khi được Trung ương giao vốn; đồng thời tăng cường quản lý giám sát, không để xảy ra đầu tư dàn trải, lãng phí.

Khẩn trương xây dựng và hoàn thành việc giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 theo đúng tinh thần Kết luận số 18-KL/TW; trong đó lưu ý bảo đảm đánh giá đầy đủ, hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả đầu tư, phân bổ có trọng tâm, trọng điểm; giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025.

Đưa Lào Cai trở thành trung tâm du lịch bốn mùa

Thủ tướng yêu cầu Tỉnh đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành kinh tế động lực. Phát triển công nghiệp theo hướng xanh, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu tập trung; thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo. Tập trung phát triển kinh tế biên mậu, phát triển thành trung tâm logistics hiện đại. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đưa tỉnh trở thành trung tâm du lịch bốn mùa, dựa trên hạ tầng hiện đại, sản phẩm du lịch đặc trưng và các khu du lịch trọng điểm. Phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị; phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP gắn với du lịch, dịch vụ, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng. Tập trung phát triển dược liệu theo chuỗi giá trị gắn với chiến lược quy hoạch, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, dài hạn; phấn đấu trở thành "Trung tâm sản xuất, chế biến dược liệu" của vùng.

Rà soát Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan (quy hoạch đô thị, nông thôn; quy hoạch khu, cụm công nghiệp; quy hoạch phát triển các khu du lịch…) để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng 2 con số và phù hợp với Quy hoạch vùng; chú trọng khai thác hiệu quả không gian phát triển mới; tập trung phát triển các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng dựa trên lợi thế về kết nối quốc tế, kết nối liên vùng, liên tỉnh.

Đồng thời, Tỉnh phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan Trung ương để tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, nhất là những quy định chồng chéo, chưa đồng bộ về đầu tư, thương mại, hạ tầng, quản lý biên giới…; xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thu hút được các nhà đầu tư chiến lược đầu tư các dự án lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, có tính liên kết, nhất là hạ tầng giao thông kết nối liên tỉnh, liên vùng, quốc tế, hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, hạ tầng công nghệ... Tập trung rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh và các dự án trọng điểm quốc gia, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng. Đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, không dừng ở việc lập phương án xử lý mà phải bảo đảm có kết quả đầu ra cụ thể (dự án tiếp tục triển khai thực hiện, tạo công ăn việc làm, đóng góp cho thu ngân sách nhà nước, ...).

Quán triệt và triển khai đồng bộ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Bảo đảm người dân chưa có đủ điều kiện để sở hữu nhà, được tiếp cận quỹ nhà ở cho thuê, giá hợp lý. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên bố trí, dành quỹ đất thỏa đáng, để phát triển nhà ở công vụ, nhà ở cho thuê gắn với các khu công nghiệp, khu chế xuất; khẩn trương xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển nhà ở cho thuê đến năm 2030.

Tập trung tạo đột phá trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; chú trọng xử lý các điểm nghẽn về lõm sóng, thiếu điện; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia; thực hiện 100% dịch vụ công đủ điều kiện trực tuyến toàn trình trong Quý III năm 2026.... Rà soát, có giải pháp cụ thể để thúc đẩy phát triển, nâng cao tỷ trọng kinh tế số, trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, dân tộc, tôn giáo, nhất là hỗ trợ đồng bào dân tộc thoát nghèo, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, bảo đảm các dịch vụ thiết yếu... Chuẩn bị tốt cho năm học 2026 - 2027; tập trung hoàn thành xây dựng 04 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới (khởi công trong đợt 1) trước ngày 30 tháng 8 năm 2026 và khởi công 04 trường còn lại trong tháng 7 năm 2026. Tổ chức thực hiện hiệu quả "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ"; các hoạt động tri ân và chính sách đối với người có công, thương, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ… nhân ngày 27 tháng 7.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 379/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang.

Chính quyền địa phương 2 cấp vận hành cơ bản ổn định, thông suốt

Thông báo kết luận nêu rõ, trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng tỉnh Tuyên Quang đã rất quyết tâm, nỗ lực, đạt được nhiều kết quả khá toàn diện. Tăng trưởng kinh tế 06 tháng đạt 7,72%, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; các ngành, lĩnh vực chủ yếu đạt nhiều kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước ước đạt gần 60% dự toán được giao. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 36,8% kế hoạch, cao hơn bình quân cả nước.

Chính quyền địa phương 2 cấp vận hành cơ bản ổn định, thông suốt. Đã tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Môi trường đầu tư kinh doanh đã có cải thiện bước đầu; hoàn thành xử lý, tháo gỡ vướng mắc 51/56 dự án tồn đọng.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, giảm nghèo bền vững tiếp tục được quan tâm, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quyết liệt triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; công tác dân tộc, tôn giáo được chú trọng; các hoạt động đối ngoại, hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa với các địa phương biên giới nước bạn được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Tuyên Quang vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức cần tập trung khắc phục trong thời gian tới: Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm (7,72%), chưa đạt kịch bản đề ra (9,02%) và thấp hơn mức bình quân cả nước; do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm là 10,17% thì 6 tháng cuối năm phải tăng trên 12% - đây là thách thức rất lớn.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng mới đạt 28,5% mục tiêu cả năm. Thu hút đầu tư FDI còn hạn chế; chưa có nhiều doanh nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn; chuyển đổi số còn nhiều khó khăn. Hạ tầng giao thông, logistic, khu công nghiệp, khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế lớn còn hạn chế. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thu nhập bình quân thấp, đời sống một bộ phận người dân vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới còn khó khăn; chịu tác động ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, bão lũ.

Tập trung đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trong thời gian tới, tỉnh Tuyên Quang cần đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên Game nổ hũ rút tiền mặt học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nhận diện và khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của Tỉnh đối với các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nông - lâm nghiệp hàng hóa, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, kinh tế cửa khẩu, logistics… tạo nền tảng và động lực thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững cả trước mắt và lâu dài.

Đồng thời, tập trung đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và phải cam kết đến cuối năm 2026 đạt 100% - đây là cơ sở để Trung ương xem xét tiếp tục phân bổ vốn đầu tư công trong thời gian tới. Triển khai thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, bảo đảm đánh giá đầy đủ, hạch toán kinh tế - xã hội, hiệu quả đầu tư, phân bổ có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo đảm ưu tiên đối tượng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giảm ít nhất 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021-2025.

Chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tiếp nhận, phân bổ và triển khai ngay các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 sau khi được Trung ương giao vốn trên cơ sở phân cấp, phân quyền, phát huy tinh thần chủ động, trách nhiệm của địa phương, phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, không dừng ở việc lập phương án xử lý mà phải bảo đảm có kết quả đầu ra cụ thể (dự án tiếp tục triển khai thực hiện, tạo công ăn việc làm, đóng góp cho thu ngân sách nhà nước...).

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp gắn với chế biến sâu nông, lâm sản

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu tỉnh Tuyên Quang đẩy mạnh phát triển công nghiệp gắn với chế biến sâu nông, lâm sản. Đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng các khu, cụm công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào những ngành, lĩnh vực tỉnh có thế mạnh. Phát huy lợi thế kinh tế lâm nghiệp, kinh tế dưới tán rừng; phát triển các sản phẩm chủ lực (cam sành, chè Shan tuyết, mật ong bạc hà…) gắn với chế biến sâu, mã số vùng trồng, thương hiệu, sản phẩm OCOP và mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu.

Bên cạnh đó, triển khai thực hiện hiệu quả Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt điều chỉnh, gắn với hoàn thiện quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo đảm phù hợp đồng bộ với các quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng. Tập trung ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê tại các khu, cụm công nghiệp; nghiên cứu chính sách ưu tiên nhà ở cho thuê cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn.

Bảo đảm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, hiệu quả, nâng cao năng lực điều hành và quản trị địa phương theo đúng tinh thần Kết luận số 64-KL/TW ngày 01/7/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đánh giá kỹ chất lượng đội ngũ cán bộ các xã, phường để làm cơ sở để luân chuyển, sắp xếp cán bộ, bố trí biên chế phù hợp với nhu cầu thực tiễn của địa phương, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế.

Quyết liệt triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW; chú trọng đẩy mạnh ứng dụng hoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và thúc đẩy kết nối liên thông đồng bộ, thống nhất, tránh lãng phí; phối hợp các doanh nghiệp viễn thông để xóa 100% các điểm lõm sóng. Đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học để đặt hàng nghiên cứu phát triển một số sản phẩm công nghệ chiến lược phục vụ phát triển kinh tế-xã hội...

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 380/TB-VPCP ngày 17/7/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ.

Tại Thông báo kết luận, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực cũng như các kết quả nổi bật mà Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đạt được trong thời gian qua, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, Thủ tướng lưu ý tỉnh Phú Thọ vẫn còn một số hạn chế, khó khăn, thách thức cần được nhìn nhận thẳng thắn, đánh giá kỹ lưỡng và tập trung khắc phục trong thời gian tới như: Tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chưa bền vững, phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng khu vực dịch vụ còn thấp; một số lĩnh vực tăng trưởng thấp so với mục tiêu; giải ngân vốn đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu; tiến độ một số dự án còn chậm; số lượng dự án tồn đọng, kéo dài phải xử lý còn khá lớn; huy động các nguồn lực xã hội còn hạn chế; tài nguyên du lịch và văn hóa chưa được khai thác hiệu quả; hạ tầng giao thông, logistics, khu công nghiệp còn hạn chế, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao;…

Xác lập mô hình phát triển mới dựa trên Game nổ hũ rút tiền mặt học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Phú Thọ thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 06 tháng cuối năm 2026 và thời gian tới như sau:

Bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; nhất là Kết luận số 18-KL/TW, 10 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị để rà soát, cập nhật và cụ thể hóa thành các nhóm nhiệm vụ trong Chương trình hành động của Tỉnh. Nghiên cứu kỹ các Nghị quyết số 109, 168, 169, 180 của Chính phủ để phân tích đánh giá chính xác nguyên nhân, đề ra các giải pháp mạnh, khả thi nhằm đạt và vượt các mục tiêu đề ra.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa tư duy, cách nghĩ, cách làm, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành theo hướng bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, hành động quyết liệt, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; tạo bước thay đổi mạnh mẽ từ lãnh đạo Tỉnh đến các cấp, các ngành, cơ sở. Tập trung khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế và dư địa phát triển, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, quyết tâm đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, nhất là mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 (11% trở lên), tạo đà, tạo thế, tạo lực cho các năm tiếp theo, đóng góp nhiều hơn cho thành tựu chung của cả nước.

Xác lập mô hình phát triển mới của Tỉnh dựa trên Game nổ hũ rút tiền mặt học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn… và nguồn nhân lực chất lượng cao. Rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tiễn; xây dựng kịch bản điều hành chi tiết; nhận diện dư địa của từng ngành, từng lĩnh vực; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, nhất là đối với các lĩnh vực thế mạnh như: công nghiệp chế biến, chế tạo, nông - lâm nghiệp hàng hóa, thương mại, dịch vụ, du lịch, logistics…

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; tỉnh Phú Thọ phải cam kết giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 và số vốn kéo dài sang năm 2026. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tiếp nhận, phân bổ và triển khai ngay các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 sau khi được Trung ương giao vốn.

Khẩn trương xây dựng và hoàn thành việc giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 theo đúng tinh thần Kết luận số 18-KL/TW; trong đó lưu ý bảo đảm đánh giá đầy đủ, hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả đầu tư, phân bổ có trọng tâm, trọng điểm; giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025.

Thủ tướng giao Bộ Tài chính lựa chọn một số địa phương để thực hiện việc giám sát phân bổ nguồn lực đầu tư công theo Kết luận số 18-KL/TW, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 9/2026.

Đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng

Tháo gỡ dứt điểm "điểm nghẽn" về giải phóng mặt bằng, về nguyên vật liệu, nhân lực để đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, hạ tầng giao thông kết nối. Đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, nhất là ở khu vực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) và tỉnh Hòa Bình (cũ); không dừng ở việc lập phương án xử lý mà phải bảo đảm có kết quả đầu ra cụ thể (dự án tiếp tục triển khai thực hiện, tạo công ăn việc làm, đóng góp cho thu ngân sách nhà nước, ...).

Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, giá trị gia tăng cao, theo cả chiều rộng và chiều sâu, tập trung vào các ngành có lợi thế cạnh tranh như chế biến, chế tạo, điện tử, ô tô - xe máy... Nâng tỷ trọng và phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, công nghệ cao, khai thác hiệu quả lợi thế cửa ngõ của Thủ đô, đưa Phú Thọ thực sự trở thành trung tâm thương mại, logistics của vùng và cả nước.

Chuyển đổi mạnh mẽ sang phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp hàng hóa theo chuỗi liên kết giá trị, ứng dụng công nghệ cao, tuần hoàn, hữu cơ; hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, gắn với các sản phẩm chủ lực (chè, bưởi, cam, chuối, lúa…), chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, thương hiệu, OCOP và mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu.

Tỉnh Phú Thọ quán triệt và triển khai đồng bộ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê - ưu tiên chiến lược trong phát triển nhà ở. Rà soát việc phân nhóm nhà ở để có chính sách phù hợp theo định hướng gồm nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ, nhà ở chính sách, trong đó ưu tiên cao nhất cho phát triển nhà ở cho thuê; rà soát quy hoạch, quỹ đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê gắn với các khu, cụm công nghiệp và nhà ở công vụ cho cán bộ, công chức, giáo viên, nhân viên y tế vùng sâu, vùng xa.

Tỉnh Phú Thọ có nhiều lợi thế trong phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, đặc biệt là văn hóa, Tỉnh cần có kế hoạch khai thác hiệu quả các Nghị quyết số 71-NQ/TW, số 72-NQ/TW và số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị để phát triển đồng bộ, toàn diện và bứt phá các ngành, lĩnh vực này trong thời gian tới. Đặc biệt, cần biến lợi thế về văn hóa, tín ngưỡng, hệ thống di sản trở thành nguồn lực phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; chú trọng các chương trình kích cầu du lịch, các sản phẩm du lịch độc đáo, chất lượng cao…

Bảo đảm vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao năng lực điều hành và quản trị địa phương theo tinh thần Kết luận số 64-KL/TW ngày 01/7/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (nhất là rà soát đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực cán bộ cấp xã, ưu tiên bố trí nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho cơ sở, khả thi, phù hợp với năng lực địa phương). Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, quản lý, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư.

Thực hiện 100% dịch vụ công đủ điều kiện trực tuyến toàn trình trong Quý III/2026

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; chú trọng triển khai hiệu quả, rộng khắp phong trào "Bình dân học vụ số", phổ cập kỹ năng số; tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số trong giải quyết thủ tục hành chính để giảm tải áp lực cho cán bộ cơ sở.

Thực hiện các giải pháp nâng cao tỷ trọng kinh tế số và chỉ số đổi mới sáng tạo, thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia. Thực hiện 100% dịch vụ công đủ điều kiện trực tuyến toàn trình trong Quý III/2026.

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; thực hiện hiệu quả Chiến dịch "500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Chú trọng bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng; công tác quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản (trong đó có cấp phép khai thác khoáng sản).

Tăng cường phòng chống thiên tai, bão lũ, sạt lở đất trong mùa mưa bão sắp tới. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội; kịp thời xử lý tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chú trọng công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị tỉnh đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh, kiến tạo, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có bản lĩnh, năng lực vượt trội, có tầm nhìn phát triển, dám nghĩ, dám làm, vì Nhân dân phục vụ; kiên quyết thay thế ngay những cán bộ không đáp ứng yêu cầu. Tăng cường trách nhiệm giải trình, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu; kịp thời thanh tra, kiểm tra, giám sát, cảnh báo, phòng ngừa sai phạm.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn

Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 378/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn.

Thông báo nêu: Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân tỉnh Lạng Sơn về thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số", phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và tổ chức vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp, đóng góp chung vào thành công của cả nước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức cao (tăng 42% so với cùng kỳ và cao nhất cả nước); thu ngân sách nhà nước hoàn thành trước 06 tháng so với dự toán. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 39,7% kế hoạch (cao hơn mức 35,5% bình quân cả nước).

Tỉnh đã tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Mô hình chính quyền địa phương 02 cấp vận hành cơ bản ổn định, thông suốt. Đã triển khai quyết liệt, đồng bộ Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, giảm nghèo bền vững tiếp tục được quan tâm. Quyết liệt triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cần thẳng thắn nhìn nhận tỉnh Lạng Sơn vẫn còn tồn tại một số hạn chế: Tăng trưởng 6 tháng đầu năm (7,02%) thấp hơn mức bình quân cả nước (8,18%), đứng thứ 30/34 cả nước và thứ 8/9 vùng Trung du và miền núi phía Bắc và tạo áp lực rất lớn đối với 6 tháng cuối năm phải tăng trên 13% để đạt mục tiêu cả năm 2026 tăng 10,61%. Quy mô nền kinh tế của tỉnh còn thấp, đứng thứ 31/34 cả nước...

Trước những hạn chế trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tỉnh cần phải thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới như: Tiếp tục quán triệt, quyết liệt triển khai đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; nhất là Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV lần thứ hai; 10 Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị; các Nghị quyết số 109, 180, 168, 169 của Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVIII.

Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm (10,61%) trong bối cảnh tăng trưởng thấp và nhiều khó khăn, tồn tại hiện hữu, nhiệm vụ đặt ra cho Tỉnh 6 tháng cuối năm và thời gian tới là rất nặng nề, thách thức, cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, người dân và cộng đồng doanh nghiệp, thay đổi mạnh mẽ về tư duy, cách nghĩ, cách làm; phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; hành động quyết liệt, hiệu quả; kiên định, quyết tâm phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu đã đề ra, nhất là mục tiêu tăng trưởng 02 con số trong năm 2026.

Thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng

Thủ tướng Chính phủ đề nghị Tỉnh thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo từng tháng, từng quý, từng ngành, từng địa phương trong 06 tháng cuối năm 2026; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện các nhiệm vụ để quyết tâm phấn đấu cả năm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên.

Khẩn trương triển khai hiệu quả Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt điều chỉnh, bảo đảm phù hợp, đồng bộ với các Quy hoạch ngành quốc gia, Quy hoạch vùng; cụ thể hóa mô hình tổ chức không gian "01 trục phát triển - 02 hành lang kinh tế - 03 vùng kinh tế - xã hội", trong đó tập trung nguồn lực cho trục phát triển Đồng Đăng - Hữu Lũng và Vùng kinh tế động lực gắn với Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, làm hạt nhân dẫn dắt tăng trưởng của tỉnh.

Ưu tiên phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại - logistics biên mậu

Tỉnh nghiên cứu, đổi mới mô hình tăng trưởng phù hợp với lợi thế đặc thù của tỉnh biên giới, dựa trên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh... và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung nguồn lực ưu tiên phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại - logistics biên mậu; nghiên cứu, đề xuất các mô hình kinh tế mới có tính đột phá như Khu hợp tác kinh tế qua biên giới để làm động lực dẫn dắt, thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông lâm nghiệp hàng hóa phát triển theo chuỗi giá trị.

Đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng theo định hướng Quy hoạch tỉnh, gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn, Khu du lịch quốc gia Mẫu Sơn và các sản phẩm du lịch biên giới đặc trưng.

Lạng Sơn quyết tâm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao, gắn với xác định trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị, nhất là của người đứng đầu; kiên quyết điều chuyển vốn chậm sang dự án giải ngân tốt. Ưu tiên nguồn lực cho các công trình hạ tầng giao thông chiến lược, kết nối liên vùng và quốc tế theo Quy hoạch tỉnh (cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng, cao tốc Lạng Sơn - Thái Nguyên, cao tốc Lạng Sơn - Tiên Yên, tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Hà Nội - Đồng Đăng), các khu, cụm công nghiệp, các dự án hạ tầng cửa khẩu và Đề án cửa khẩu thông minh. Đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, không dừng ở việc lập phương án xử lý mà phải bảo đảm có kết quả đầu ra cụ thể (dự án tiếp tục triển khai thực hiện, tạo công ăn việc làm, đóng góp cho thu ngân sách nhà nước, ...).

Triển khai có hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 bảo đảm yêu cầu hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư từng dự án, từng chương trình trước khi phân bổ vốn; chủ động làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư và quán triệt nghiêm quy định giảm ít nhất 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021 - 2025. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tiếp nhận, phân bổ và triển khai ngay các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 sau khi được Trung ương giao vốn.

Quán triệt và triển khai đồng bộ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; rà soát quy hoạch, quỹ đất phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, gắn với các khu, cụm công nghiệp và nhà ở công vụ cho cán bộ, công chức, giáo viên, nhân viên y tế vùng sâu, vùng xa.

Quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính

Bên cạnh đó, Tỉnh phải quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; thực hiện thực chất chuyển đổi số đồng bộ trên bốn trụ cột (chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, cửa khẩu số). Tăng cường xúc tiến thương mại, đầu tư, huy động tối đa nguồn lực xã hội cho các dự án công nghiệp, năng lượng tái tạo và hạ tầng cửa khẩu.

Bảo đảm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực điều hành và quản trị địa phương theo đúng tinh thần Kết luận số 64-KL/TW ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (nâng cao năng lực cán bộ cấp xã nhất là các xã biên giới, vùng đặc biệt khó khăn, ưu tiên bố trí nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho cơ sở nhưng gắn với năng lực địa phương); chủ động rà soát, đề xuất phương án sắp xếp các xã phường nếu cần thiết trên cơ sở thực tiễn của địa phương và quy định của pháp luật. Rà soát, đánh giá chất lượng, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ cấp cơ sở để có phương án sắp xếp, điều động, bố trí lại cho phù hợp.

Triển khai quyết liệt thực chất, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, thúc đẩy mạnh mẽ Game nổ hũ rút tiền mặt học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện trong mọi lĩnh vực; rà soát, đầu tư các hệ thống hạ tầng, trang thiết bị chuyển đổi số bảo đảm đồng bộ, tránh lãng phí trên cơ sở khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu của tỉnh kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển các ngành kinh tế.

Quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, giảm nghèo bền vững, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới. Triển khai các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đối với các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh như phát triển kinh tế cửa khẩu, nông lâm nghiệp đặc sản, du lịch biên giới,… Chuẩn bị tốt cho năm học 2026 – 2027; đẩy nhanh việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân; tăng cường phòng chống thiên tai, bão lũ, sạt lở đất trong mùa mưa bão sắp tới...

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại buổi làm việc với Lãnh đạo thành phố Huế

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 383/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại buổi làm việc với Lãnh đạo thành phố Huế.

Huế nổi bật với 4 điểm sáng

Thông báo nêu: Trong 6 tháng đầu năm 2026, với sự nỗ lực, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, thành phố Huế đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó nổi bật 4 điểm sáng:

Thứ nhất, kinh tế có sự chuyển biến bước đầu, duy trì đà tăng trưởng khá, GRDP tăng 8,33% so với cùng kỳ;

Thứ hai, du lịch khởi sắc rõ nét, khẳng định vai trò động lực đặc thù của đô thị di sản Huế; trong 6 tháng Thành phố đã đón 4,3 triệu lượt khách, tăng 30% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch đạt 10.300 tỷ đồng, tăng 56,2% so với cùng kỳ;

Thứ ba, môi trường đầu tư kinh doanh chuyển biến tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 51%; tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng 17,9%; tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt 20.634 tỷ đồng, tăng 24,6%; Thành phố đã cấp mới 38 dự án đầu tư với vốn đăng ký 22.660 tỷ đồng; xuất khẩu tăng 19,2%;

Thứ tư, bộ máy chính quyền 2 cấp vận hành thông suốt, tỷ lệ hài lòng của người dân đạt 95%; chỉ số SIPAS xếp thứ 5 cả nước (tăng 10 bậc); chỉ số PII xếp thứ 5 (tăng 8 bậc).

Bên cạnh những kết quả đạt được, thành phố Huế vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, cần lưu ý 3 nhóm vấn đề lớn:

Thứ nhất, đà tăng trưởng đang chậm lại và thấp hơn so với kịch bản của năm. Mặc dù GRDP Quý I tăng 9,40%, GRDP Quý II chỉ tăng 7,46%, dẫn đến GRDP 6 tháng đầu năm của Thành phố chỉ đạt 8,33% (thấp hơn 1,3 điểm % so với kịch bản là 9,62%);

Thứ hai, mô hình tăng trưởng của Thành phố còn phụ thuộc lớn vào dịch vụ, du lịch, trong khi đây là các ngành, lĩnh vực mang tính mùa vụ. Huế có động lực lớn nhưng độ bền chưa cao, cần chủ động khai thông nguồn lực, đa dạng dư địa tăng trưởng hơn nữa, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp;

Thứ ba, còn 4 điểm nghẽn cần tập trung xử lý: (i) giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 30,3% kế hoạch; (ii) các dự án công nghiệp động lực chậm tiến độ; sản xuất điện giảm 21,1%; tỷ lệ lấp đầy Khu kinh tế, Khu Công nghiệp còn thấp; (iii) hạ tầng phục vụ du lịch chưa được đầu tư đồng bộ; (iv) hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá nguyên vật liệu, nhân công, giải phóng mặt bằng, tiếp cận tín dụng.

Huế cần tạo sự chuyển biến ngay từ tháng 7/2026

Trước những khó khăn khách quan của Thành phố trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều chuyển biến khó lường, Phó Thủ tướng yêu cầu Thành phố cần kiên định, quyết tâm với mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, bám sát tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã quán triệt.

Phó Thủ tướng lưu ý, Huế là thành phố trực thuộc Trung ương, với những tiềm năng, lợi thế nổi trội về di sản văn hóa thế giới, Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, hệ thống cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế Phú Bài, Đại học Huế; có cơ chế chính sách đặc thù, vấn đề đặt ra hiện nay là phải biến di sản, tiềm năng, quy hoạch và dự án thành sản phẩm, doanh thu, việc làm, nguồn thu ngân sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Huế cần tạo sự chuyển biến ngay từ tháng 7 năm 2026 để bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm 2026 cũng như cả giai đoạn 2026-2030:

Trong 6 tháng cuối năm, Thành phố chuyển trạng thái, chủ động khai thác từng động lực, đẩy nhanh tiến độ từng dự án, từng sản phẩm, giải quyết từng điểm nghẽn, quan trọng nhất phải rõ người chịu trách nhiệm và rõ thời hạn hoàn thành.

Thành phố kiên định mục tiêu cả năm từ 10% trở lên; bám sát kịch bản 6 tháng cuối năm tăng từ 11,5% và điều hành linh hoạt, phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao hơn ở các lĩnh vực thuận lợi (du lịch, dịch vụ) để dự phòng rủi ro hụt chỉ tiêu của khu vực công nghiệp.

Trong tháng 7, Thành phố cần: (i) cụ thể hóa kịch bản thành chỉ tiêu điều hành đến từng ngành, lĩnh vực và địa bàn; trong đó cần xây dựng phương án dự phòng trong trường hợp sản xuất công nghiệp, điện, đầu tư công hoặc một số dự án trọng điểm không đạt tiến độ; (ii) xác định danh mục dự án ưu tiên theo từng quý, từng tháng; phân công các đồng chí Lãnh đạo Thành phố trực tiếp đôn đốc và đồng hành cùng các ngành, các xã, phường để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng; xác định kết quả, tiến độ triển khai các dự án (kể cả đầu tư công và ngoài ngân sách) là thước đo, đánh giá năng lực của từng đồng chí Lãnh đạo.

Tập trung tháo gỡ ngay các điểm nghẽn, đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh và đầu tư

Về tổng rà soát toàn bộ nguồn lực theo Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Huế, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 Hội nghị Trung ương 2, Phó Thủ tướng yêu cầu Huế tập trung tháo gỡ ngay các điểm nghẽn, đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh và đầu tư.

Trong đó lưu ý, xác định giải ngân đầu tư công là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng (6 tháng cuối năm còn khoảng hơn 4.300 tỷ đồng; bình quân mỗi tháng giải ngân khoảng 721 tỷ đồng, gấp 2,3 lần sáu tháng đầu năm).

Đối với khó khăn về vật liệu xây dựng, Ủy ban nhân dân Thành phố rà soát từng nguồn cung, từng nhà cung cấp, cân đối cụ thể cho từng dự án theo tiến độ; công khai mỏ, công suất, sản lượng, giá và tiến độ cấp phép; xử lý nghiêm tình trạng găm hàng, đội giá.

Đối với khó khăn về giải phóng mặt bằng, Phó Thủ tướng khẳng định đây là vấn đề tổ chức thực hiện, thể hiện năng lực và tinh thần trách nhiệm của cán bộ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giao rõ trách nhiệm cho từng địa bàn, từng dự án, cam kết tiến độ bàn giao mặt bằng theo từng tháng và chịu trách nhiệm; xử lý nghiêm cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ.

Dịch vụ tiếp tục là động lực dẫn dắt tăng trưởng của Thành phố

Dịch vụ tiếp tục là động lực dẫn dắt tăng trưởng của Thành phố; trong đó, văn hóa, di sản và du lịch phải trở thành động lực đặc trưng và có sức lan tỏa sang thương mại, vận tải, lưu trú, ẩm thực và các ngành công nghiệp sáng tạo. Với 8 di sản được UNESCO ghi danh, trong đó với 6 di sản riêng có, Huế có lợi thế khác biệt mà rất ít địa phương khác có được, Huế cần tập trung vào thế mạnh, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị, biến di sản thành tài sản, chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm và nguồn thu; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Theo đó, Thành phố tiên phong tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, quy hoạch Huế trở thành đô thị di sản văn hóa tiêu biểu của cả nước; cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW thành các dự án, sản phẩm và cơ chế, chính sách tạo nguồn lực phát triển Thành phố, gắn với tổng kết, hoàn thiện Nghị quyết số 38/2021/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế;

Thứ hai, xây dựng Huế trở thành nơi quy tụ, tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; hình thành không gian, tổ hợp công nghiệp văn hóa và sáng tạo; thu hút đầu tư vào điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực, áo dài, nghệ thuật biểu diễn và nội dung số;

Thứ ba, số hóa 100% di sản đã xếp hạng theo tiêu chuẩn thống nhất, gắn với sản phẩm khai thác cụ thể; hoàn thành hồ sơ "Thành phố sáng tạo về Ẩm thực" trình UNESCO năm 2027;

Thứ tư, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thí điểm xác định giá trị kinh tế của di sản, đo lường đóng góp của văn hóa vào GRDP và đưa thành chỉ tiêu điều hành hằng năm;

Thứ năm, du lịch phải hướng đến mục tiêu tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và doanh thu. Đề nghị Thành phố: (i) tranh thủ mùa cao điểm hè và chuỗi sự kiện Festival Huế 2026, phấn đấu cả năm đón 7,3 đến 7,5 triệu lượt khách, doanh thu 20.000 tỷ đồng; (ii) phát huy các mô hình kinh tế đêm, du thuyền trên sông, sản phẩm gắn với di sản, ẩm thực, nghệ thuật áo dài để tăng chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú của du khách; (iii) quan tâm đầu tư hạ tầng du lịch; (iv) kiểm soát giá, chất lượng dịch vụ, không để "sốt giá", giữ hình ảnh đô thị di sản văn minh, thân thiện.

Phát huy các động lực tăng trưởng về công nghiệp - nông nghiệp

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Huế rà soát, phát huy các động lực tăng trưởng về công nghiệp - nông nghiệp:

Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô phải là động lực chính về công nghiệp - cảng biển - logistics và thúc đẩy liên kết Vùng. Trong đó, trước mắt tập trung: (i) đẩy nhanh tiến độ các Bến số 6, 7, 8 Cảng Chân Mây; (ii) hoàn thiện thể chế và đẩy nhanh tiến độ xây dựng các trung tâm logistics, khu phi thuế quan; (iii) tập trung các dự án hạ tầng kết nối trục Đông - Tây (Quốc lộ 49F - cửa khẩu Hồng Vân gắn với Lào) và trục Bắc - Nam để tạo chân hàng cho cảng;

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ cho các dự án trọng điểm; đặc biệt là các Dự án trong lĩnh vực công nghiệp ô tô; khởi công Khu công nghiệp VSIP trong tháng 9 năm 2026. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch thu hút các nhà đầu tư thứ cấp cho các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp trên địa bàn;

Rà soát, làm việc với các nhà đầu tư để đôn đốc việc giải ngân vốn thực hiện đối với các Dự án đầu tư đã cấp (bao gồm cả FDI và doanh nghiệp trong nước), đóng góp thực chất vào tăng trưởng;

Quan tâm doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp của địa phương; chủ động làm việc, đối thoại, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp trên địa bàn và các Hiệp hội, doanh nghiệp, doanh nhân của Huế đang đầu tư kinh doanh tại các địa phương trên cả nước để động viên, khích lệ, khơi dậy tinh thần của các doanh nghiệp để đóng góp cho các mục tiêu phát triển của thành phố.

Về nông nghiệp, Thành phố tập trung đảm bảo năng suất vụ hè thu; chủ động phương án phòng, chống thiên tai, bảo đảm an toàn hồ đập, đê điều trước mùa mưa bão; chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn khơi thông nguồn vốn tín dụng, kể cả nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội.

Đồng thời, phát huy mô hình chính quyền địa phương hai cấp; tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để hỗ trợ thực chất cho người dân, doanh nghiệp; tiếp tục rà soát, cắt giảm các quy trình nội bộ, giảm thực chất 50% thời gian, chi phí giải quyết thủ tục hành chính theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 Hội nghị Trung ương 2; hoàn thành dứt điểm việc tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài; khẩn trương xử lý, sắp xếp 542 cơ sở nhà, đất dôi dư theo đúng kế hoạch, không để thất thoát, lãng phí và giải phóng nguồn lực.

Tập trung nguồn lực cho giáo dục và an sinh xã hội. Hoàn thành xây dựng 2 Trường Phổ thông nội trú trên địa bàn trước ngày 30 tháng 8 năm 2026, đồng thời bố trí nguồn lực tương xứng để duy trì, vận hành sau này. Trong đó, nghiên cứu việc sử dụng ngân sách địa phương để miễn phí sách giáo Game nổ hũ rút tiền mặt ngay trong năm học 2026-2027; tiếp tục phát huy vai trò của Đại học Huế và các Trường thành viên trong thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao của cả Vùng...

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh An Giang về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 385/TB-VPCP ngày 20/7/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh An Giang về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026.

Tại Thông báo kết luận, Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, quyết tâm của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh An Giang trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" của năm 2026; đạt nhiều kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long, GRDP 6 tháng tăng 8,83% và cao hơn mức bình quân chung của cả nước; 03 khu vực đều tăng trưởng tốt; thu ngân sách nhà nước đạt cao, tăng 18,3% so với cùng kỳ; đã tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2026 và thu hút được nhiều dự án đầu tư mới; nghiên cứu Game nổ hũ rút tiền mặt học - công nghệ, chuyển đổi số có chuyển biến tích cực; công tác giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội được quan tâm chỉ đạo thực hiện; quốc phòng được bảo đảm, chủ quyền biên giới trên biển, hải đảo và đất liền được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, Phó Thủ tướng lưu ý An Giang còn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng 6 tháng chưa đạt kịch bản đề ra, tạo thách thức lớn để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đạt từ 10,71% trở lên của năm 2026; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp hơn mức bình quân chung của cả nước và là điểm nghẽn cần tập trung giải quyết; giải ngân nguồn vốn cho phát triển Game nổ hũ rút tiền mặt học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, ảnh hưởng tới chất lượng và tốc độ tăng trưởng; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn rất thấp so với mức bình quân của cả nước; số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ cấp xã ở một số nơi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; số lượng và quy mô doanh nghiệp còn khiêm tốn so với mức bình quân chung của cả nước, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 2% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động của cả nước; đời sống Nhân dân ở một số địa phương còn nhiều khó khăn…

Thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù hướng Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng mới

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2026 là 10,71%, Phó Thủ tướng yêu cầu An Giang phải thực sự quyết tâm và nỗ lực hơn nữa, đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy để tạo đột phá trong quản lý và phát triển kinh tế - xã hội; bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương; khẩn trương rà soát, cập nhật, điều chỉnh kịch bản tăng trưởng từng quý, từng ngành, lĩnh vực trong 6 tháng cuối năm; xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, có tiến độ cụ thể; tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

An Giang tiếp tục phát huy thế mạnh của một số ngành chủ lực, có lợi thế cạnh tranh trong Vùng và cả nước về: Sản xuất lúa gạo, cây ăn trái; khai thác, nuôi trồng thủy sản; chế biến thực phẩm; khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và sản phẩm từ đất sét; vận tải, logistics; dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống, giải trí. Đồng thời, quy hoạch, định hướng, khuyến khích phát triển một số ngành khác có tiềm năng, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao như: Dịch vụ tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, y tế, chăm sóc sức khỏe, lập trình, nghiên cứu Game nổ hũ rút tiền mặt học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Đẩy mạnh triển khai thực hiện các giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp, phát triển kinh tế tư nhân cả về số lượng và chất lượng theo tinh thần đồng hành, tạo điều kiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để doanh nghiệp yên tâm phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao tỷ trọng về số lượng doanh nghiệp và quy mô vốn đầu tư so với cả nước; tăng cường quảng bá, xúc tiến đầu tư có chọn lọc, phát triển các khu, cụm công nghiệp để tạo đột phá trong phát triển các ngành công nghiệp mới.

Tập trung nghiên cứu, chuẩn bị sẵn sàng để áp dụng, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Phú Quốc, hướng tới mục tiêu trở thành cực tăng trưởng mới của khu vực, đóng góp lớn cho tăng trưởng của địa phương và cả nước.

Khẩn trương khơi thông các nguồn lực còn ách tắc, tồn đọng; thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu Game nổ hũ rút tiền mặt học - công nghệ, chuyển đổi số và tạo đột phá trong giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, lấy con người làm trung tâm và động lực phát triển.

Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026

An Giang khẩn trương triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026 được giao, đặc biệt là đẩy nhanh tiến độ các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027 và các dự án giao thông trọng điểm như cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, tuyến nối Long Xuyên - Rạch Giá, cao tốc Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu, tuyến N1…; chủ động điều chuyển vốn từ các dự án chậm giải ngân sang các dự án có khả năng giải ngân tốt và có nhu cầu bổ sung vốn.

Khẩn trương rà soát tình hình hoạt động của các mỏ vật liệu xây dựng trên địa bàn, đề xuất các giải pháp quyết liệt, hiệu quả để bảo đảm cung cấp đủ nguyên, vật liệu phục vụ các dự án trọng điểm, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 25/7/2026 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Xây dựng khẩn trương nghiên cứu phương án thi công phù hợp (cầu cạn) và ứng dụng vật liệu mới trong đầu tư, xây dựng các công trình giao thông đường bộ cao tốc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo đúng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 271/TB-VPCP ngày 29/5/2026, bảo đảm chất lượng và tính ổn định, bền vững của công trình, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm tải gánh nặng về nhu cầu sử dụng vật liệu san lấp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

An Giang tăng cường công tác phòng, chống thiên tai và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhất là giông lốc, lũ lụt, sạt lở bờ sông, bờ biển, xâm nhập mặn; xây dựng kịch bản, kế hoạch để kịp thời ứng phó với các loại hình thiên tai, bảo đảm an toàn cho tính mạng, tài sản của người dân; chú trọng công tác bảo vệ môi trường, nhất là bảo vệ rừng và duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng; quản lý, khai thác hiệu quả và đúng quy định của pháp luật đối với các loại tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, đặc biệt là đá, cát, sỏi.

Đồng thời, quan tâm thực hiện tốt các chính sách về y tế, văn hóa, an sinh xã hội, đặc biệt là tại các địa bàn khó khăn, khu vực biên giới, hải đảo; khẩn trương triển khai có hiệu quả chương trình khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm 1 lần và có phương án chữa bệnh phù hợp, nhất là đối tượng yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số; hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành các dự án nhà ở xã hội và đặc biệt là các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền theo đúng Kế hoạch và tiến độ đề ra; thí điểm triển khai nhà ở cho thuê.

Tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cả trên biển và đất liền; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, chủ động nắm chắc tình hình cơ sở để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý từ sớm, từ xa các vấn đề phức tạp; quyết liệt quản lý, xử lý vi phạm về khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) và quyết tâm gỡ thẻ vàng của EC đối với thủy sản Việt Nam./.