Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tầm nhìn đến 2045, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và trên thế giới.
Mục tiêu tổng quát của Đề án là phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số mạnh, bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, nâng cao vị thế, thương hiệu quốc gia Make in Viet Nam trên thị trường khu vực và quốc tế.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế, doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.
Phấn đấu có 60 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt 20 triệu USD/năm. Có 05 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt tối thiểu 01 tỷ USD/năm.
Phấn đấu thực hiện thành công tối thiểu 25 thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A)/liên doanh/hợp tác chiến lược giữa doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam và đối tác quốc tế, với giá trị mỗi thương vụ từ 01 triệu USD trở lên.
Tầm nhìn đến 2045, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và trên thế giới. Có tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến; thương hiệu Make in Viet Nam trở thành thương hiệu công nghệ số có uy tín được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam không chỉ làm chủ công nghệ và thị trường mà còn định hướng xu hướng phát triển công nghệ số toàn cầu, góp phần xây dựng chuẩn mực, tiêu chuẩn và hệ sinh thái số toàn cầu, thúc đẩy một trật tự kinh tế số quốc tế công bằng, bao trùm và bền vững.
Một trong các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án là đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường quốc tế theo quy định của pháp luật.
Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các chương trình, dự án nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam có tiềm năng xuất khẩu dựa trên các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, hướng tới nắm bắt và từng bước làm chủ công nghệ.
Hỗ trợ kêu gọi các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, Quỹ Đầu tư Phát triển công nghiệp chiến lược ưu tiên đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số hướng tới thị trường quốc tế.
Thúc đẩy mô hình hợp tác "3 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ số, làm nền tảng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có kế hoạch đầu tư, hợp tác hoặc cung cấp dịch vụ tại thị trường nước ngoài tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển trọng điểm quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, bản địa hóa và tiêu chuẩn hóa sản phẩm, dịch vụ công nghệ số nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, pháp lý, ngôn ngữ và văn hóa của từng thị trường quốc tế; hỗ trợ chứng nhận, thử nghiệm độc lập và hỗ trợ doanh nghiệp uy tín trong nước mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.
Hỗ trợ kết nối với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp tại các thị trường trọng điểm để tạo thuận lợi cho việc thử nghiệm kỹ thuật và pháp lý đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Việt Nam trên nhóm người dùng thử nghiệm có giới hạn, trước khi chính thức thương mại hóa.
Nhiệm vụ và giải pháp khác là hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu công nghiệp công nghệ số Make in Viet Nam theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, xây dựng Bộ nhận diện thương hiệu và Cẩm nang truyền thông đa ngôn ngữ về ngành công nghiệp công nghệ số Việt Nam nhằm định vị, quảng bá hình ảnh công nghiệp và doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo nền tảng truyền thông thống nhất và chuyên nghiệp.
Triển khai các hoạt động truyền thông quốc tế đồng bộ nhằm quảng bá thương hiệu công nghệ số Việt Nam thông qua việc chủ động xây dựng nội dung chuyên sâu, giới thiệu thành tựu, doanh nghiệp công nghệ số tiêu biểu, sản phẩm và dịch vụ công nghệ số Việt Nam trên các kênh truyền thông, báo chí và diễn đàn quốc tế uy tín; đồng thời triển khai các chiến dịch truyền thông số trên các nền tảng thông tin toàn cầu với nội dung được bản địa hóa phù hợp với đặc điểm văn hóa, nhu cầu và xu hướng đối với từng thị trường mục tiêu.
Hình thành Gian hàng số quốc gia Việt Nam trên các nền tảng thương mại điện tử quốc tế uy tín, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số tham gia và khai thác hiệu quả thông qua việc tổ chức quảng bá sản phẩm, dịch vụ phù hợp với thị trường mục tiêu.
Hỗ trợ kết nối các tổ chức, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài tham quan, khảo sát cơ sở sản xuất, nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam; tổ chức các hoạt động trao đổi, kết nối về cơ hội hợp tác kinh doanh, đầu tư và chuyển giao công nghệ nhằm quảng bá năng lực, sản phẩm công nghệ số Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Công nghệ số Việt Nam tại các thị trường chiến lược nhằm giới thiệu, xúc tiến thương mại và tạo cơ hội hợp tác kinh doanh cho sản phẩm, dịch vụ, giải pháp công nghệ số Việt Nam.
Cùng với đó, thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ số chủ lực, dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn ra toàn cầu theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, xác định các ngành công nghiệp số chiến lược có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu, lựa chọn tối thiểu 05 doanh nghiệp công nghệ số chủ lực của Việt Nam để phát huy vai trò dẫn dắt trong hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số nhỏ và vừa; xây dựng các chuỗi liên kết, liên minh kinh tế số theo ngành và các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu dịch vụ kỹ thuật số nhằm giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường quốc tế, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và tuân thủ luật pháp tại thị trường mục tiêu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế ưu đãi thuế và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp chủ lực nhằm khuyến khích hợp tác, đặt hàng và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng.
Nghiên cứu xây dựng và triển khai chính sách phiếu hỗ trợ tài chính (voucher) từ các quỹ để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số của các doanh nghiệp chủ lực, qua đó phục vụ hoạt động nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ mới.
Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số chủ lực xây dựng các nền tảng số, dịch vụ đám mây dùng chung với chi phí ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hệ sinh thái; ưu tiên sử dụng các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước khi đạt tiêu chuẩn, hỗ trợ cùng tham gia vào các dự án lớn của doanh nghiệp chủ lực.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 29/2026/QĐ-TTg ngày 04/6/2026 ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia (Quy chế).
Việc tổ chức thông tin và cung cấp dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia được thực hiện theo hướng lấy người dùng làm trung tâm, bảo đảm khả năng tiếp cận đối với mọi nhóm người dùng, bao gồm người khuyết tật, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người nước ngoài.
Quy chế này quy định nguyên tắc, quyền hạn, trách nhiệm và phương thức quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia; quản lý định danh, xác thực và tài khoản sử dụng; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tổ chức tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; thực hiện thanh toán trực tuyến; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân và các nội dung liên quan đến bảo đảm vận hành, kết nối, an toàn, an ninh và hiệu năng hoạt động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Quy chế này áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quản lý, vận hành, khai thác các thông tin, dịch vụ, tiện ích trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Quy chế quy định các danh mục dữ liệu dùng chung của Cổng Dịch vụ công quốc gia được kết nối, chia sẻ với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính bao gồm:
1. Danh mục thủ tục hành chính.
2. Danh mục dịch vụ công trực tuyến.
3. Danh mục cơ quan.
4. Danh mục đơn vị hành chính.
5. Danh mục ngành, lĩnh vực.
6. Danh mục kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
7. Danh mục tài khoản của đơn vị Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng thương mại.
8. Danh mục các khoản thu nghĩa vụ tài chính vào ngân sách nhà nước.
9. Danh mục ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
10. Các danh mục khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Quy chế quy định các loại thông tin cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia bao gồm:
1. Thông tin về thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, quyết định công bố thủ tục hành chính và các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Thông tin hướng dẫn, hỏi đáp thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, thực hiện nghĩa vụ tài chính có liên quan.
3. Thông tin, thông báo về tiếp nhận, trả kết quả, hướng dẫn hoàn thiện, bổ sung hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, về tình hình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
4. Thông tin tiếp nhận, giải quyết phản ánh kiến nghị trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
5. Thông tin về đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến; khảo sát sự hài lòng của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
6. Thông tin báo cáo, số liệu, thống kê liên quan đến tình hình giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công khác.
7. Thông tin địa chỉ, số điện thoại, thư điện tử hướng dẫn của các cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính; thông tin chủ quản, quản lý, duy trì hoạt động Cổng Dịch vụ công; thông tin đường dây nóng, tổng đài hỗ trợ.
8. Thông tin về nghĩa vụ tài chính và thanh toán nghĩa vụ tài chính qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
9. Thông tin về dịch vụ bưu chính công ích trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.
10. Thông tin về điều khoản sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia.
11. Các thông tin khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Quy chế nêu rõ: Việc quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, giao dịch điện tử, an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, bảo vệ bí mật Nhà nước và các quy định khác có liên quan, bảo đảm việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, dịch vụ công trực tuyến được thông suốt, tiết kiệm, an toàn, hiệu quả.
Việc tổ chức thông tin và cung cấp dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia được thực hiện theo hướng lấy người dùng làm trung tâm; bảo đảm thông tin và dịch vụ được cung cấp chính xác, rõ ràng, thống nhất, được cập nhật kịp thời theo quy định; giao diện, chức năng được thiết kế Game nổ hũ rút tiền mặt học, thân thiện, dễ sử dụng, bảo đảm khả năng tiếp cận đối với mọi nhóm người dùng, bao gồm người khuyết tật, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người nước ngoài.
Cổng Dịch vụ công quốc gia được kết nối thông suốt, liên tục với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm việc vận hành 24 giờ tất cả các ngày trong tuần.
Việc khai thác, sử dụng lại thông tin của tổ chức, cá nhân trong thực hiện các thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin, dữ liệu cá nhân.
Việc quản lý, vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia bảo đảm cơ chế điều phối liên ngành giữa Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Game nổ hũ rút tiền mặt học và Công nghệ trong quá trình tổ chức thực hiện; thực hiện chia sẻ thông tin kịp thời, thống nhất xử lý vướng mắc về dữ liệu, chuẩn kỹ thuật, chuẩn nghiệp vụ và các vấn đề phát sinh, bảo đảm Cổng Dịch vụ công quốc gia vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc theo phân công, phân cấp và quy chế phối hợp do cấp có thẩm quyền ban hành.
Quy chế quy định quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi sử dụng dịch vụ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia như sau:
Khai thác thông tin, sử dụng các dịch vụ cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia phù hợp với mức độ an toàn theo hình thức xác thực khi đăng nhập.
Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin kê khai, chỉ sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia cho các mục đích hợp pháp và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động được thực hiện bằng tài khoản của mình.
Chịu trách nhiệm đối với tất cả các nội dung do tổ chức, cá nhân gửi, đăng ký, cung cấp khi sử dụng dịch vụ và các tiện ích trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và phải có trách nhiệm đối với các bên có liên quan khác trước pháp luật.
Thực hiện các yêu cầu của cơ quan cung cấp dịch vụ công trực tuyến và nộp phí, lệ phí (nếu có) theo quy định của pháp luật đối với từng loại dịch vụ công trực tuyến.
Trường hợp sử dụng lại các thông tin, nội dung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia để đăng tải trên các phương tiện truyền thông phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân, Cổng Dịch vụ công quốc gia chia sẻ các thông tin, dữ liệu của tổ chức, cá nhân đã có trên hệ thống để hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến liên quan, tuân thủ quy định của pháp luật về cung cấp thông tin.
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/7/2026.
Quyết định số 31/2021/QĐ-TTg ngày 11/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 979/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (Kế hoạch).
Nghị quyết số 20/2026/QH16 ngày 23/4/2026 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 ngày 23/4/2026 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (Nghị quyết), bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả.
Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Nghị quyết.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương trong việc triển khai thi hành Nghị quyết.
Để việc triển khai thi hành Nghị quyết được đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai các nội dung chính sau:
Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này ở cấp địa phương.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, trình Chính phủ trước ngày 30/6/2026, trong đó:
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo các quy định về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đối với các Điều 13, 14, 17, 18 của Nghị quyết.
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm soạn thảo các quy định và hồ sơ liên quan về: Cơ chế đăng ký đầu tư bảo đảm việc thu hút đầu tư nước ngoài hiệu quả, ổn định, giảm thiểu phát sinh tranh chấp theo khoản 4 Điều 7 của Nghị quyết và Cơ chế phản hồi nhà đầu tư nước ngoài nhằm ngăn ngừa phát sinh vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế theo khoản 5 Điều 9 của Nghị quyết; gửi Bộ Tư pháp trước ngày 07/6/2026 để tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công cơ bản, thiết yếu về phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (theo nhiệm vụ được giao tại khoản 4 Điều 19 của Nghị quyết), bảo đảm thực hiện đúng, kịp thời ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Văn bản số 1532-CV/VPTW ngày 05/4/2026; trình Chính phủ trước 30/6/2027.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp với Nghị quyết, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; hoàn thành trước ngày 01/3/2027.
Đồng thời, thường xuyên rà soát, sắp xếp, bố trí nhân sự để bảo đảm thực hiện công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Bộ Tư pháp thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Nghị quyết, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết.
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương ban hành Quyết định số 53/QĐ-HĐPH kiện toàn thành viên Hội đồng này.
Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu làm Chủ tịch Hội đồng.
Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm:
Ông Hoàng Thanh Tùng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng, thay ông Nguyễn Hải Ninh, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm Phó Chủ tịch Hội đồng, thay ông Đỗ Ngọc Huỳnh, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Các Ủy viên Hội đồng gồm:
Ông Nguyễn Xuân Trường, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương làm Ủy viên Hội đồng thay ông Nguyễn Thanh Hải, nguyên Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.
Ông Nguyễn Văn Gấu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Ủy viên Hội đồng thay ông Võ Minh Lương, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ông Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an làm Ủy viên Hội đồng thay ông Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an.
Ông Tạ Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính làm Ủy viên Hội đồng thay ông Đỗ Thành Trung, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Bà Nguyễn Thị Quyên Thanh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Ủy viên Hội đồng thay ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Ủy viên Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm kiêm nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội đối với các ông bà có tên sau:
1. Bà Lê Thị Thủy, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thay bà Nguyễn Thị Tuyến, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã đảm nhiệm công tác khác.
2. Ông Bế Xuân Trường, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, thay ông Phạm Hồng Hương, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam thôi tham gia Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.
3. Ông Bùi Quang Huy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thay ông Nguyễn Tường Lâm, Bí thư Trung ương Đoàn thôi tham gia Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội./.