Trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế, các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế. Tòa án không giải quyết yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài khi các bên đã có văn bản thỏa thuận từ bỏ quyền này.
Thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế là một phần của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại.
Tòa án không được từ chối giải quyết yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài trong các trường hợp sau đây:
a) Thỏa thuận từ bỏ thuộc các trường hợp thỏa thuận vô hiệu quy định tại Điều 18 của Luật Trọng tài thương mại;
b) Thỏa thuận được lập sau thời điểm một bên nộp yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài ra Tòa án.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế
Nghị định quy định Trung tâm trọng tài quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thỏa thuận giữa các bên liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Trung tâm tài chính quốc tế theo quy tắc và quy định do Trung tâm trọng tài quốc tế ban hành, trừ các tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp có đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước hoặc người có thẩm quyền;
b) Tranh chấp liên quan đến lao động;
c) Tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân;
d) Vấn đề khác liên quan đến quản lý nhà nước đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, của Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam.
Chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế
Theo Nghị định, hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Bị thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại;
b) Các trường hợp quy định tại Điều lệ của Trung tâm trọng tài quốc tế.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại.
Tiêu chuẩn của sáng lập viên, trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế
Nghị định quy định người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm sáng lập viên Trung tâm trọng tài quốc tế:
a) Là công dân Việt Nam;
b) Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Có trình độ đại học trở lên;
d) Có trình độ Tiếng Anh từ bậc 5 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hoặc tương đương;
đ) Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài liên quan đến lĩnh vực đầu tư, kinh doanh; ưu tiên có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng;
e) Đã tham gia ban hành ít nhất 10 phán quyết trọng tài;
g) Là trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế bao gồm công dân Việt Nam và công dân nước ngoài. Trung tâm trọng tài quốc tế quy định tiêu chuẩn Trọng tài viên của tổ chức mình.
Nghị định quy định các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án;
b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
Tuyết Thư